Saturday, Jul 21st

Last update02:43:24 PM GMT

Lựa Chọn Ngành Học

Sinh viên đại học ở Mỹ thường phải mất đến hai năm để thỏa mãn những yêu cầu giáo dục tổng quát (general education) trong hệ 4 năm. Các lớp này cũng được gọi là những đòi hỏi cơ bản; chúng bao gồm những môn học nhân văn (humanities), chẳng hạn như văn chương, nghệ thuật (như âm nhạc và mỹ thuật), triết học, lịch sử, và ngoại ngữ; các lớp khoa học xã hội (nhân chủng học, tâm lý học, kinh tế, khoa học chính trị, và xã hội học); toán, và các lớp khoa học tự nhiên (như khoa học về sở thú – zoology) và những khoa học về vật lý thiên nhiên (thiên văn học, hóa học, địa chất học, vật lý). Những môn này sinh viên có thể lấy tại các trường đại học cộng đồng.

 

Câu Hỏi: Tại sao sinh viên phải học nhiều môn không trực tiếp liên hệ đến môn chính của mình?

Trả Lời: Các đại học muốn sinh viên phải có một kiến thức khá toàn diện, và làm quen với một số các đề tài khác nhau. Các lớp này thực ra sẽ giúp và đóng góp vào môn chính của sinh viên, ví dụ: lớp truyền thông sẽ giúp sinh viên toán phát biểu mạch lạc và lớp văn chương sinh viên sẽ hiểu thấu đáo hơn nếu anh ta có một căn bản về tâm lý học.

 

Câu Hỏi: Làm thế nào để chọn một môn chính thích hợp?

Trả Lời: Sinh viên phải tự vấn xem là mình giỏi môn nào, cái gì làm mình thích thú say mê vào một môn học. Nếu người sinh viên thích vẽ vời trên máy vi tính, hay thích nấu ăn? Hoặc giả anh ta thích thú theo dõi thời cuộc? Anh ta dự định sẽ học thêm, hay muốn một ngành chuyên môn ngắn hạn nhưng được trả lương cao?

Khi lựa chọn một ngành học, người sinh viên cũng nên nhìn vào những đổi thay về kinh tế trong xã hội để lựa chọn một ngành nghề thích hợp.

 

Câu Hỏi: Khi nào thì tôi có thể chọn môn chính (major)?

Trả Lời: Phần lớn các đại học hệ 4 năm muốn các sinh viên nói rõ (declare) môn học chính của mình vào cuối năm thứ hai hay chậm nhất là đầu năm thứ ba. Thời gian khá rộng rãi như vậy để giúp sinh viên có thì giờ suy nghĩ và chọn môn chính cho mình. Nhiều giáo sư cố vấn đã khuyên các sinh viên lấy một vài lớp bắt đầu trong những lớp do mình xếp đặt (electives) để thử thời vận. Những lớp bắt đầu (introductory) có thể giúp sinh viên hiểu rõ sở trường sở đoản của mình. Tuy nhiên có nhiều chương trình đòi hỏi các sinh viên phải tuyên bố môn chính sớm, ví dụ như ngành y tá (nursing), hay đòi hỏi sinh viên phải có một số điểm nhất định nào đó (GPA – Grade Point Average), để được tiếp tục học hay được vào chương trình như ngành giáo viên.

 

Câu Hỏi: Sự khác biệt giữa các môn chính ứng dụng (applied) và kinh viện (academy)?

Trả Lời: Có hai loại môn chính (major), một môn chính ứng dụng (applied) và loại kia là kinh viện (academy). Loại môn chính ứng dụng là loại mà sinh viên sẽ chuẩn bị cho mình một nghề có năng khiếu nhất định, ví dụ sinh viên sẽ chọn về ngành thực phẩm công nghệ, kiến trúc thẩm mỹ nhà cửa (landscape architecture), báo chí, giáo dục đặc biệt, kỹ sư điện, kỹ sư vi tính .v.v… Các môn chính ứng dụng ngoài ra cũng giúp sinh viên chuẩn bị xin giấy hành nghề như kế toán, dạy học, công tác xã hội … Loại thứ hai là loại kinh viện (academy). Đây là những môn chính không nhất thiết đào tạo sinh viên ra một nghề nghiệp nhất định. Các môn chính kinh viện là những môn học về nhân văn, toán và khoa học. Tuy vậy, đây là những lớp học chuẩn bị cho sinh viên lên học cao học, tiến sĩ hay trong những ngành chuyên môn đòi hỏi những khả năng sáng tạo, chuyên biệt và rộng rãi.

Cả hai đều có những điểm lợi và điểm bất lợi. Điểm bất lợi của những môn chính kinh viện là người sinh viên đi vào thị trường lao động không có khả năng chuyên môn, phải chịu thiệt thòi về lương bỗng, tuy nhiên điểm lợi là nhờ được huấn luyện chu đáo về kinh viện, sinh viên tốt nghiệp dễ dàng phân tích lý luận công việc, thường được chủ mến chuộng và quí trọng những năng khiếu này. Các môn chính kinh viện có thể giúp sinh viên vào những chương trình hậu đại học như cao học, tiến sĩ, bác sĩ, nha sĩ …

Các môn chính ứng dụng lợi điểm là có thể áp dụng kỹ năng của mình vào công việc ngay. Tuy vậy, các sinh viên tốt nghiệp ngành này phải quan sát thị trường lên xuống để điều chỉnh kỹ năng của mình để có thể giữ vững công ăn việc làm của mình.

Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University