Tuesday, Sep 25th

Last update02:43:24 PM GMT

Vì Sao Cần Phát Triển Kỹ Năng Tra Cứu?

Thực hành tra cứu khoa học chẳng phải là điều mới lạ. Khả năng quan sát, đặt câu hỏi, và tìm tòi đã luôn luôn giúp con người hiểu biết về thế giới. Bài này nhắc lại lịch sử và triết lý của quá trình tra cứu, những vấn đề mà nó đặt ra trong quá khứ và hiện tại, cũng như những hứa hẹn của nó trong tương lai.

Tra cứu khoa học bắt nguồn từ bản chất tò mò không ngừng tìm hỏi của con người. Chính tố chất tò mò đã giúp loài người sống còn và phát triển về mặt văn hóa. Và cũng chính kỹ năng tra cứu khoa học đã tạo ra sự vượt trội về công nghệ và một đời sống sung túc cho nước Mỹ. Vì vậy, vun xới kỹ năng tra cứu phải chăng là vấn đề trung tâm của giáo dục?

Ở bất cứ xã hội nào mà kỹ năng tra cứu được nuôi dưỡng thì con người luôn phát triển. Athenes ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên là một ví dụ. Trên quảng trường Agora, nơi mà người Hy Lạp yêu tự do tụ họp để thảo luận các vấn đề trong ngày, người thầy giáo già vĩ đại Socrates đã thách thức thanh niên tự mình suy nghĩ, nghi ngờ cả những chân lý của những người đi trước, và tìm hiểu những bí mật của thế giới.

Có một thời thành phố Athenes đã nổi danh về những thành quả trí thức – từ những tác phẩm khoa học và triết học của Plato và Aristotle đến những thành tựu văn chương và nghệ thuật của Sophocles và Phidias. Vậy mà Socrates đã phải đánh đổi sự hoài nghi và tìm kiếm chân lý không khoan nhượng ấy bằng cả mạng sống của mình. Và cuối cùng thì ngay cả thành phố Athenes thông tuệ ấy cũng không còn khoan nhượng cho đam mê tra cứu này nữa.

Ngày nay phần lớn trong chúng ta không tìm học được gì nhiều trong những đối thoại của Socrates, nhưng ta sẽ trân trọng ông giáo già đó vì đã thách tuổi trẻ Athenes biết cách độc lập suy tư. Chúng ta tin rằng chính những con người được huấn luyện như thế sẽ góp phần thúc đẩy xã hội và khoa học tiến lên. Chúng ta đã kế thừa lòng đam mê tra cứu ấy không chỉ của Hy lạp cổ đại, mà còn của thời Phục Hưng của Galileo và Leonardo, cũng như thời Khai Sáng của Locke và Rousseau.

Thế kỷ 20 đã nêu những câu hỏi mới về khả năng tra cứu khoa học. Người ta đã không còn tin chắc rằng khả năng khám phá bí mật vũ trụ của con người không phải luôn luôn có lợi cho nhân loại. Trong khi ta không ngừng nổ lực tìm hiểu và chế ngự thế giới quanh ta thì sức mạnh hủy diệt của ta cũng cân bằng với sức mạnh sáng tạo. Ngày nay, có lẽ hơn bao giờ hết, khả năng suy nghĩ độc lập của các công dân bình thường sẽ là một bảo vệ tốt nhất trong một thế giới mà khoa học và công nghệ ngày càng trở nên phức tạp hơn. Nếu vậy thì kỹ năng hoài nghi tra vấn và độc lập suy nghĩ có thể là những mục tiêu thiết yếu của học đường.

Ngay trước Thế Chiến II, nhà giáo dục danh tiếng nhất của thế kỷ 20 John Dewey đã chứng minh một cách thuyết phục rằng một nền giáo dục đặt căn bản trên tra cứu là một cách bảo tồn giá trị trong một thế giới bị độc tài toàn trị chế ngự. Phương pháp khoa học, ông nói “là phương tiện duy nhất hiện có để chúng ta mỗi ngày nắm bắt được kinh nghiệm về thế giới ta đang sống” (1938, III). Dewey tin rằng suy tư khoa học là kỹ năng thiết yếu để đương đầu với những phức tạp của đời sống hiện đại, và ông cảnh báo rằng thất bại không huấn luyện được kỹ năng ấy sẽ “là một sự trở về với nền độc tài trí thức và đạo đức”. Hôm nay chúng ta lại cần tư duy khoa học hơn bao giờ hết vì ta hiện đang bị đè bẹp dưới gánh nặng sự kiện của thời đại thông tin.

Đối với Dewey, rèn luyện kỹ năng tra cứu bao gồm việc cho phép trẻ em học hỏi qua kinh nghiệm trực tiếp, và vun đắp bản tánh tò mò của chúng. Ông tin rằng tư duy sáng tạo nằm ngay trong tiến trình khoa học, và sinh hoạt khoa học ở vườn trẻ cũng không khác gì hơn ở một phòng thí nghiệm. Tổ chức học tập như vậy sẽ giúp thầy trò thống nhất môn học với phương pháp tư duy, và cho phép tiến trình học thích ứng với mức độ thông minh và những quan tâm đặc thù của trẻ. Tuy Dewey đã qua đời mà không chứng kiến sự bùng nổ thông tin hiện nay, ông ta cũng đã nhìn ra sự cần thiết phải nuôi dưỡng kỹ năng tự định hướng học tập.

Các nhà giáo dục gần đây như Jean Piaget và Jerome Bruner đã thêm việc nghiên cứu nhận thức vào triết thuyết của Dewey. Tác phẩm “Nghiên Cứu Phát Triển Nhận Thức” (1966) của Bruner và Kenney có trích một trang nổi tiếng của George Miller (“Con số Bảy, Cộng hay Trừ Hai”) trong đó Miller cho rằng trí óc con người chỉ chứa đựng mỗi một lúc khoảng bảy thông tin trừu tượng mà thôi. Dựa trên điều ấy, Bruner đã kêu gọi phải “lấp đầy bảy ngăn ấy với vàng ròng”; nghĩa là phải giúp học sinh nắm được cấu trúc nhận thức nằm sâu trong môn học thay vì nhồi nhét các sự kiện rời rạc.

Nhà sinh vật học E.O. Wilson gần đây cũng nêu một ý kiến tương tự trong tác phẩm “Trùng Lập” (1998), trong đó ông đề nghị thay thế việc giảng dạy các môn học riêng lẻ bằng một kiến thức thống nhất theo kiểu thời Khai Sáng. Thực hiện việc ấy như thế nào? Theo Dewey, bằng một tiến trình học tập chú trọng vào việc khảo sát thế giới qua kinh nghiệm trực tiếp. Kiến thức là kết quả của những quan sát và thí nghiệm, phát khởi từ một chuỗi câu hỏi cơ bản. Các sinh vật ăn ra sao, chúng tránh bị sinh vật khác ăn ra sao? Chúng làm sao để sống còn và sinh sôi? Vị trí của con người ở đâu trong thế giới sinh vật nghiệt ngã này?

Liệu trong một lớp học chú trọng kỹ năng tra cứu như thế thì lối rao giảng (truyền thống) còn có vai trò gì không? Đây cũng là một vấn đề phải tìm hiểu. Rõ ràng là dạy bằng cách nói ra là phương pháp hiệu quả nhất để trình bày các sự kiện, ý niệm và phương pháp tư duy. Tuy nhiên các nghiên cứu về nhận thức gần đây cho thấy rằng những gì ta học được qua phương pháp ấy tồn tại không lâu trong trí nhớ. Làm sao chắc chắn được những gì còn sót lại ấy thật là “vàng ròng” như lời của Bruner?

Thật đáng tiếc là sư phạm không phải là một khoa học chính xác. Tuy vậy, các cải tiến sư phạm trong 40 năm qua chứng tỏ rằng một nền giáo dục dựa trên việc quan sát cẩn thận các hiện tượng có thật, và trên những câu hỏi cơ bản đặt ra bởi cả thầy và trò, đã làm học trò hứng thú, nhớ lâu và phát triển nhận thức; và điều này quả là một sự thách thức cho lối giảng dạy truyền thống. Nếu đúng vậy thì đây là một tin vui, vì nó có thể giải phóng học đường khỏi sự độc tài trí thức mà Dewey đã từng e sợ.

Nếu hôm nay Socrates mà còn sống và viếng thăm một trường học Mỹ, chắc sẽ có nhiều điều làm ông hoang mang. Ví dụ ông có thể khó mà theo dõi cuộc thảo luận tại một lớp lý hay hóa ở một trường trung học. Dù cho mức độ kiến thức được trình bày, hẳn ông cũng vẫn giữ vững thái độ phê phán sắc sảo như xưa. Ông vẫn sẽ phát biểu rằng yếu quyết của nghề dạy là làm cho học trò đặt ra những câu hỏi đúng, dù cho vấn đề có phức tạp. Có thể ông sẽ hứng thú hơn khi viếng thăm một trường tiểu học, hay thậm chí một vườn trẻ, nơi mà học tập bao gồm việc tự mình truy tìm các bí mật của tự nhiên, nơi mà sân chơi cũng tuân theo các luật lệ xã hội, nơi mà thầy cô giáo khuyến khích học trò theo đuổi các câu hỏi của mình và tìm cách trả lời. Đấy há chẳng phải là phương pháp của Socrates? Một phương pháp đã có từ thuở xa xưa – trước khi văn minh phát triển – phương pháp học tập đầu tiên của nhân loại.

Peter Dow

Người dịch : Thanh Lam


Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University