Sunday, Sep 23rd

Last update02:43:24 PM GMT

Bảy Loại Thông Minh

Anh em trong tòa soạn Giờ Học Đường thường vẫn gặp những phụ huynh băn khoăn đặt nhiều câu hỏi về tương lai của các con em họ. Thật tình mà nói chúng tôi chi là những nhà giáo, kiến thức vỏn vẹn trong những gì chúng tôi biết, để truyền đạt và hướng dẫn cho con. Có phụ huynh nói rằng con tôi mê đọc sách quá, chả học toán gì cả. Có phụ huynh nói, con tôi mê chơi game và chỉ giỏi toán mà thôi, ngoài ra chả biết gì cả. Có phụ huynh nói, nó chỉ thích ngoại ngữ, ngoài ra chả giỏi gì khác.

Những lo âu của phụ huynh không phải là không chính đáng. Tuy nhiên, Giờ Học Đường vẫn tin rằng một đứa trẻ được sinh ra và lớn lên bình thường, sẽ luôn luôn là một nhân tố xây dựng tích cực của xã hội. Ông bà cha mẹ ngày xưa có nói, “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.” Một con người không thể giỏi hết tất cả mọi thứ. Nếu thế thì ai cũng làm chức vụ chuyên môn, lấy ai làm công việc thủ công, hay cần đến tay nghề hảo hạng?

Hướng dẫn con em đi đúng ngành nghề cần dựa vào một sự hiểu biết tối thiểu về khả năng đứa bé. Hơn ai hết, cha mẹ là người trực tiếp hàng ngày với con cái mình. Những tin tức chỉ dẫn sau đây của Giáo Sư Howard Gardner, chuyên gia về tâm não bộ (neuropsychologist) của Đại Học Havard thì chúng ta cần đặt lại vấn đề thông minh của con trẻ. Theo ông, vấn đề thông minh của con người mang một tầm mức lớn hơn là trước đây vẫn được định nghĩa. Trong khi nghiên cứu về vấn đề thông minh của con người, ông nhận thấy đa phần đều dựa vào một số tiêu chuẩn rất hạn hẹp. Theo ông, nếu định nghĩa thông minh theo tiêu chuẩn đo lường bằng những tiêu chuẩn lý luận và ngữ học, thì nhiều người sáng dạ không được xếp vào loại thông minh. Với ông, người thông minh là người có khả năng giải quyết vấn đề, tạo ra sản phẩm, mà những sản phẩm hay việc giải đoán được một hay nhiều xã hội hay môi trường văn hoá xem trọng.

Gardner dựa vào những nghiên cứu về thần kinh não bộ và ông đưa ra nhận định rằng con người có ít nhất là 7 (bảy) khả năng thông minh, mỗi loại thông minh bao gồm những yếu tố riêng về tầm mức suy nghĩ, phán đoán, giải quyết vấn đề, và sáng tạo sản phẩm.

 

Theo ong, bảy loại thông minh được xếp loại như sau:

1. Thông Minh Về Ngữ Học. Chịu trách nhiệm về sự sản sinh ra ngôn ngữ, và những kết quả phức tạp nảy sinh từ ngôn ngữ như thơ phú, khôi hài, kể chuyện, văn phạm, đặc ngữ loại trực tiếp (metaphor) và loại gián tiếp (simile), lý luận trừu tượng, suy nghĩ biểu tượng (symbolic thinking), ứng khẩu lưu loát, thảo luận tranh cãi, làm những mô thức về cảm quan, và tất cả các thể loại văn viết.

Ngôn ngữ đánh thức sự thông minh ngữ học: bằng cách đọc những áng văn hay thơ của người khác, hay tư tưởng, thơ phú, hay lắng nghe một bài diễn văn, thuyết trình hay thảo luận nhóm.

 

2. Thông Minh Lý Luận Toán Học. Thường được nói đến là suy nghĩ khoa học hay lý luận phân tích tổng hợp; khả năng quan sát và hiểu phần chi tiết là một thành tố của tổng thể, khả năng suy diễn phân tích chẳng hạn như là có khả năng quan sát khách quan, và từ những quan sát đó, đạt đến một kết luận, đưa ra một giải đoán, và thiết lập nên những giả thuyết. Thông minh lý luận toán học giúp con người nhận biết mô thức (patterns), làm việc với những dấu hiệu trừu tượng, và phân biệt những tương quan vật hay được những nối kết giữa những chi tiết hay tương quan đó.

3. Thông Minh Về Thị Giác Không Gian Hay Còn Gọi Là Khoảng Cách (visual-sapatial). Loại thông minh này bao gồm khả năng tạo nên những tác phẩm về thị giác (gồm về tranh, hình, và điêu khắc), định hướng tàu thuyền máy bay, vẽ bản đồ, và kiến trúc, tất cả đều sử dụng không gian và biết cách di chuyển đúng hướng và không sai lạc. Những trò chơi như cờ vua (chess) hay đánh bi, đều đòi hỏi sự thông minh trong việc định hướng vật từ nhiều góc cạnh. Giác quan cơ bản cho sự thông minh này là thị giác, đồng thời cũng bao gồm việc tạo hình ảnh hay tranh trong trí não.

4. Thông Minh Qua Sự Sử Dụng Cơ Thể Để Diễn Tả. Đây là khả năng sử dụng cơ thể để diễn tả những tình cảm, xung động (dùng cơ thể để nhảy hay dùng cơ thể để diễn tả ngôn ngữ -body language), để chơi một trò chơi (như trong thể thao), hay là tạo nên một sản phẩm mới (chẳng hạn như làm ra một phát minh mới). Học bằng cách thực hành từ lâu được công nhận là một bộ phận quan trọng trong giáo dục. Cơ thể của chúng ta biết những gì mà đầu óc chúng ta không biết và không thể biết. Những người như tài tử, người hề (clown) và những người bắt chước, nhại giọng v.v… là những người có khả năng vô biên dùng cơ thể của mình để biết, hiểu, truyền đạt trong một phương cách đánh động được lòng người.

5. Thông Minh Về Âm Nhạc và Âm Điệu. Những người này nhận biết và sử dụng rành rẽ âm nhạc và âm điệu, cũng như những khuôn mẫu về âm thanh, và rất nhạy cảm đối với âm thanh ở chung quanh mình, giọng nói người hay các khí cụ âm nhạc. Trong tất cả những loại thông minh vừa kể, loại thông minh âm nhạc và nhịp điệu có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên não bộ con người vì âm nhạc có thể làm cho người nghe được dịu xuống, lắng đọng tâm hồn sau những áp lực của đời sống, kích thích làm cho người nghe vui nếu đang buồn chán, và giúp người nghe có thể đi theo một nhịp điệu đều đặn như tập thể dục hay nhảy múa. Âm nhạc thường được dùng để gợi hứng đức tin trong tôn giáo, hay dùng để diễn tả một sự mất mát lớn hay niềm vui cực kỳ.

6. Thông Minh Về Khả Năng Giao Tế Nhân Sự. Có khả năng làm việc trong nhóm một cách tích cực và hợp tác, có khả năng dùng ngôn ngữ cũng như ngôn ngữ cơ thể (body language/non verbal) để truyền đạt cảm thông với người khác. Loại thông minh này dựa trên sự xây đắp khả năng nhận biết sự khác biệt giữa các trạng thái về cảm tính (moods), tính khí (temperament), sự khuyến khích người khác làm việc và ý định của những người chung quanh. Những người có loại thông minh cực cao thường có lòng thương xót sâu xa đối với những ước vọng, sợ hãi, và đức tin của những người khác. Những người có thông minh loại này là những giáo viên cố vấn (counselors), giáo viên, những người cán sự chỉnh hình hay tâm lý (therapist), chính trị gia, thương nhân, và các lãnh tụ tôn giáo.

7. Thông Minh Về Khả Năng Hiểu Nội Tại Bản Thân. Đây là khả năng mình hiểu chính con người mình như những cảm tính (feeling) một loạt những phản ứng tình cảm, chu trình hay diễn trình suy nghĩ, tự phân (self reflection), trực giác về những thực tại tâm linh (spiritual realities), những người có loại thông minh này rất ý thức về những “ý thức” của mình. Họ là những người có thể đem hình ảnh của mình đến cho  người khác. Truyền đạt cái tôi của mình đến cho người khác là một trong chức phận của loại thông minh này.

Theo chuyên gia Gardner, khi nghĩ đến sự thông minh, chúng ta cần cẩn thận bao gồm tất cả các loại. Và nhờ đó, chúng ta có thể nhìn thấy  rõ con em và những tiềm năng của chúng. Giờ Học Đường ước mong bài báo trên đây có thể giúp phụ huynh hiểu rõ hơn về những thông minh tiềm ẩn các em có, và dựa vào đó hướng dẫn con em đi đúng ngành nghề của mình.

Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University