Saturday, May 26th

Last update02:43:24 PM GMT

Marie Cuire - Nhà Khoa Học Nữ Vĩ Đại Nhất Thế Kỷ 20

Marie Curie (1867-1934) là nhà bác học nữ duy nhất đến nay được vinh dự hai lần nhận giải thưởng Nobel. Xuất thân trong một gia đình mà cả cha mẹ đều là nhà giáo, nên bà đã nhận được một nền giáo dục nghiêm túc ngay từ khi thơ ấu. Rời Ba Lan năm 24 tuổi, bà theo học chuyên ngành Toán và Vật Lý tại đại học Sorbonne (Pháp), và sau khi nhận tấm bằng cử nhân Vật Lý một cách xuất sắc, bà bắt đầu chuyên tâm vào việc nghiên cứu những đặc tính từ của các hợp kim.

 

Việc nhà vật lý người Đức – Wihelm Rentgen – phát hiện ra tia X có thể xuyên qua da thịt và nhiều chất khác nhưng không xuyên qua được những vật cứng và dày đặc như xương và kim loại dày đã thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân, trong đó có cả vợ chồng bà Marie Curie. Năm 1896, một nhà vật lý khác là Henry Becquerel tìm ra những tia xuyên khác, tia xuyên này phát ra từ một mẫu Uranium: Henry để mẫu Uranium trong ngăn kéo, đặt trên một tờ giấy ảnh, vài ngày sau ông thấy tờ giấy ảnh phủ một lớp hơi nước. Marie đã quyết định nghiên cứu sự bức xạ bí hiểm mà Bacquerel khám phá để làm đề tài tiến sĩ của mình.

Với chiếc tĩnh điện kế do chồng và em chồng là Jacques Curie sáng chế, bà tìm kiếm các nguồn xạ không phải của Uranium và đã khám phá được chất Thorium cũng có đặc tính ấy. Bà cũng nhận thấy rằng dù xử lý Uranium và các chất có Uranium như thế nào thì lượng bức xạ vẫn y nguyên. Từ đó, Marie nhận định rằng bức xạ không phải do các phản ứng hóa học vì nếu như vậy thì nó sẽ thay đổi khi Uranium được them vào hay bị tách khỏi các hóa chất khác; phải chăng nó từ những phân tử nhỏ nhất của chính Uranium mà ra (?) Ý tưởng đó trái ngược với các lý thuyết khoa học thời ấy nhưng sự đúng đắn của nó đã được chứng minh.

Marie cùng với chồng – ông Pierre – nghiên cứu tác động của những bức xạ mới tìm thấy, nó làm cho một số chất có hiện tượng huỳnh quang. Năm 1898, bà tìm được một nguyên tố hóa học mới, đặt tên là Polonium để tôn vinh quê hương Ba Lan của bà. Trong bản báo cáo khoa học, bà đã dùng từ “phóng xạ” để chỉ những chất như Uranium, Polonium phát tia xuyên hay bức xạ. Polonium là chất đầu tiên có độ phóng xạ mạnh được tách ra dưới dạng thuần khiết. Sự bức xạ của nó làm cho không khí xung quanh phát quang và bản thân chất Polonium sờ vào cũng thấy nóng. Nhưng Polonium không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra sự phóng xạ của muối Uranium. Bà tiếp tục nghiên cứu và làm sạch một chất chứa một nguyên tố mới mà bà gọi là Radium. Cùng với nhà vật lý Henry Bacquerel và Fritz Giesel, bà đã khám phá được những đặc tính của bức xạ vào năm 1899.

Năm 1902, Marie thu được một loại muối Radium nguyên chất, chỉ bằng 1/10 gam, nhỏ gần như là không thể nhận thấy, nhưng lượng nhỏ nhoi thu được đó cũng đủ để biết được đặc tính lý hóa của Radium. Đó là đỉnh cao trong sự nghiệp của bà và Pierre, Marie, Henry Bacquerel đã nhận giải thưởng Nobel Vật lý cho những công trình nghiên cứu về phóng xạ.

Năm 1910, bà thu được Radium nguyên chất, một thứ kim loại màu trắng lóng lánh và tìm được điểm nóng chảy của nó là 700 độ C. Cũng trong năm này, bà công bố công trình “Chuyên Luận về Sự Phóng Xạ” dày 971 trang. Năm 1911, bà được tặng giải Nobel Hóa Học vì đã tách được Radium nguyên chất.

Trong thập niên 1920-1930, người ta bắt đầu hiểu rõ hơn những hậu quả độc hại của phóng xạ đối với cơ thể con người. Những nhà bác học cùng làm việc bên cạnh ông bà Curie thuở ban đầu của phát minh đều bị những triệu chứng mà phóng xạ gây ra như khó chịu đường tiêu hóa, rát bỏng, lở loét, ung thư… Tiên phong trong nghiên cứu về phóng xạ, Marie Curie đã phải chịu đựng bệnh phóng xạ trong thời gian hơn nửa cuộc đời. Năm 1934, bà đã mất sau khi chịu đựng những đau đớn do bệnh tật bởi nhiễm xạ.

Radium ngày nay ít được dùng nhưng các công trình về tinh lọc Radium và về bức xạ đã góp phần quan trọng vào sự hiểu biết về sự phóng xạ và nguyên tử. Lòng say mê khoa học và những cống hiến của bà khiến nhân loại kính trọng và mãi mãi, Marie Curie là nhà khoa học nữ vĩ đại nhất của thế kỷ 20.


Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University