Tuesday, Sep 25th

Last update02:43:24 PM GMT

Charles Darwin, Người Làm Thay Đổi Cái Nhìn Về Sự Tiến Hóa Của Mọi Chủng Loài

Những năm đầu tiên của thế kỷ 18 là những năm chuyển đổi của những khám phá diệu kỳ của khoa học. Các nhà địa chất nhận ra rằng trái đất “già“ hơn là mọi người vẫn thường tưởng. Có những chứng cớ cho thấy những thay đổi từ từ đã làm thay đổi bề ngoài của trái đất trong suốt lịch sử hàng triệu năm.

Những bộ xương, hay xương hóa thạch của những sinh vật lạ lùng đã được tìm thấy. Xương hóa thach của những sinh vật quen thuộc cũng được tìm ra, nhưng có khi ở những nơi lạ lùng. Ví dụ, những xương hóa thạch của một số loài cá, và vỏ sò, lại được tìm thấy trên các đỉnh núi. Tự nhiên người ta thấy rằng trái đất luôn luôn thay đổi, cùng những sinh vật sống trên nó. Nhiều người nghĩ rằng có sự tiến hóa trong các chủng loài, nhưng họ không biết rõ sự tiến hóa đó là gi cho tới ngày Charles Darwin  xác quyết có sự tiến hóa của mọi sinh vật.

 

Charles Darwin

Năm 1831, Charles Darwin, người thanh niên 21 tuổi, mới tốt nghiệp đại học. Giống như tất cả những chàng trai mới tốt nghiệp đại học khác, anh ta không biết phải chọn hướng đi cho đời mình như thế nào. Cha của anh muốn anh trở thành một bác sĩ y khoa. Không may thay, Darwin lại ngán ngẫm những ca mổ xẻ. Mặc dầu anh ta cũng có thêm những bằng cấp về thần học  (theology), nhưng anh chỉ quan tâm đến địa hạt khoa học tự nhiên - ngành học  về cây cỏ và loài vật.

Darwin quyết định không trở thành một nhà truyền giáo. Anh thuyết phục cha của anh cho phép anh đi chu du trên chiếc thuyền buồm Anh quốc HMS Beagle 5 năm. Trên chiếc thuyền buồm ấy, anh làm việc với tư cách là nhà sinh vật học. Chính trong chuyến viễn hành dài ngày này, Charles Darwin đã đặt nền tảng cho một lý thuyết khoa học lừng danh sau này, đã thay đổi ý nghĩ về sự phát triển của mọi chủng loài lừng danh sau này – thuyết tiến hóa.

Ông đã thu thập hàng ngàn mẫu cây cỏ, loài vật và cẩn thận ghi chép những quan sát của mình.  Trong chuyến đi này, chiếc tàu buồm HMS Beagle đã ghé đến đảo Galapagos, ở ngoài khơi nước Ecuador 600 dặm Anh (965km), một quốc gia ở Nam Mỹ.

 

Những con chim sẻ của Darwin (finches)

Darwin nhận thấy rằng những con chim này ở trên đảo Galapagos khác chút đỉnh với những con chim ở trong lục địa Nam Mỹ. Ngay cả những con chim này cũng khác nhau trên các hòn đảo của cụm đảo này. Chúng khác nhau về mỏ (beak) và thức ăn hàng ngày chúng ăn. Darwin đặt vấn đề là có thể những con chim sẻ này xuất phát tiên khởi từ nội địa và bị thổi đến quần đảo nhỏ này trong những cơn bão. Sau khi về Anh quốc, Darwin đã tổng kết những tìm kiếm và phân tích của minh, cho ra giả thuyết tiến hóa, sau khi phối hợp những tìm kiếm của người khác.

Trở về Anh quốc, Darwin ngạc nhiên khi biết là những nông gia và những nhà chăn nuôi lấy giống đã có khả năng thay đổi con vật chăn nuôi bằng cách cho cấy giống những con vật đực và cái khác nhau trong một chủng loài. Kết quả là họ có những con vật theo ý muốn sau một vài thế hệ. Và những nhà nuôi chó giống đã có khả năng cho cấy giống 150 loài chó khác nhau. Trong cây cỏ, một ví dụ cho thấy là các nhà trồng tỉa đã cho “ép” giống ra nhiều loài bắp tốt sau vài lần cấy giống. Darwin cũng học hỏi từ những nhà địa chất, khi ông được biết rằng trái đất thay đổi sau nhiều triệu năm, và ông suy luận là các chủng loài cũng thế, cũng thay đổi theo luật “chọn lựa tự nhiên”, những chủng loài nào có thể thích nghi với môi trường hơn, sẽ tồn tại, trong khi đó những chủng loài yếu hơn, sẽ tự tiêu diệt theo thời gian. Một nhà khoa học xã hội khác, Thomas Malthus cũng đã ảnh hưởng đến sự tìm hiểu của Darwin. Theo Malthus, con người có khả năng sinh sản quá mức cung cấp của môi trường, do đó, nạn đói kém, bệnh tật, đã thay đổi số lượng con người trên mặt đất.

Darwin cũng nhận thấy là định luật cung và cầu cũng áp dụng cho loài vật. Loài vật có khả năng sản sinh quá mức cung cấp của môi trường. Các loài vật bị săn bắt, ăn thịt, bệnh tật, từ từ ít đi chỉ có chủng loài nào mạnh mới có thể tồn tại và sinh sản truyền giống. Điều này đã khiến Dawin suy nghĩ, là từ những nét đặc trưng nào đã khiến cho một chủng loài này tồn tại, những chủng loài kia thì không?

 

Sự Lựa Chọn Tự Nhiên

Vào năm 1858, khoảng 20 năm sau khi ông trở về trên chuyến hành trình của tàu HMS Beagle, Darwin nhận được một lá thư của nhà sinh vật học Alfred Russel Wallace. Wallace, trong một nỗ lực riêng rẽ, cũng đã đi đến một kết luận tương tự về học thuyết tiến hóa. Hai ông thỏa thuận sẽ tường trình những tìm hiểu của mình trong một cuộc hội họp sau đó trong năm, nhưng vào năm 1859, Darwin cho xuất bản cuốn Bàn Về Nguồn Gốc Của Các Chủng Loài  Qua Phương Cách Chọn Lựa Tự Nhiên (On the Origin of Species by Means of Natural Selection) .

Theo Darwin, sự chọn lựa tự nhiên đi qua bốn diễn trình:

  1. Sự sinh sản quá mức cầu: Mọi chủng loài đều sản sinh ra nhiều, chết non, không đến được tuổi trưởng thành.
  2. Sự khác biệt về những đặc trưng trong mọi sinh vật, những đặc trưng mạnh sẽ khiến con vật có khả năng này sẽ tồn tại hơn con vật khác, và sản sinh được con cái. Những đặc trưng này là truyền giống được và thừa hưởng từ đời này qua đời khác.
  3. Vì một khu vực thiên nhiên, hay môi trường không thể đáp ứng đầy đủ thức ăn, nước uống, và những nguồn tài nguyên khác, nhiều sinh vật đã bị những sinh vật mạnh hơn tiêu diệt để sinh tồn. Kết quả là chỉ có những sinh vật mạnh mới sống còn để trưởng thành.
  4. Một khi sinh vật tồn tại có khả năng thích ứng với môi trường, nó cũng có khả năng sản sinh mạnh mẽ để truyền giống. Chủng loài nào không có những đặc trưng đó, từ từ sản sinh ít đi, và có thể từ từ biến mất.

Lý thuyết Darwin sau này nhờ những khám phá mới của khoa học, đã xác minh những khám phá của Darwin đã có thể giải thích vì sao có sự khác biệt về các đời sống trên trái đất.


Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University