Friday, Dec 15th

Last update03:43:24 PM GMT

Alan Mathison Turing – Cha Đẻ Của Ngành Khoa Học Máy Tính

Alan Turing (1912 – 1954) sinh ngày 23/06/1912 tại Maida Vale, Paddington, London. Ông có một thời thơ ấu cô đơn vì cha mẹ thường xuyên đi xa nhà, để lại ông trong các trường nội trú. Thời gian này ông không phải là một học sinh giỏi, lơ đễnh trong việc học. Tuy vậy, ông cũng thi đậu vào trường King’s College tại Cambridge. Tại đây, ông phát triển tài năng của mình vì nhờ nơi này không ai chế nhạo sự lập dị của ông: tóc tai quần áo bê bối và thường không cạo râu, thích đạp xe đạp với một cái mặt nạ phòng khí độc đeo trên mặt do ông bị dị ứng với phấn hoa.

Trước ngày sinh nhật thứ 24 của mình, ông cho ra một bài báo chứng tỏ rằng Toán học luôn chứa những trạng thái mà không thể chứng minh hay bị bắt bẻ. Ông dự tính một chiếc máy có thể tính bất cứ con số nào, bao gồm một bộ phận điều khiển (control unit) và một bộ nhớ, có thể thực hiện nhiều thao tác cơ bản: đọc, viết, xóa những ký hiệu trên băng (tape), và cho băng chạy tới hay chạy lui. Chiếc máy Turing đơn giản này dùng làm mẫu cho các máy tính số sau này.

Trước tuổi 30, ông đã đề ra những lý thuyết căn bản cho một máy tính số (digital computer) và dẫn đầu về lý thuyết cơ bản cho thông minh nhân tạo (artificial intelligence). Năm 1935, ông hiệu chỉnh khái niệm một máy vạn năng để hình thức hóa khái niệm giải toán bằng algorithme. Năm 1936, Turing đến trường đại học Princeton, lấy bằng PhD Toán học và làm việc với nhà toán học người Mỹ John Von Neumann (1903-1957) nổi tiếng về Cơ Học Lương Tử. Nhờ đó, Turing học thêm về xác suất và logique.

Trở về Anh quốc năm 1938, ông gia nhập vào quân đội chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp đến. Trong Chiến Tranh Thế Giới thứ hai, Turing làm việc tại trung tâm giải mật mã của Anh ở Bletchley Park, chỉ huy của nhóm Hut 8 – chuyên nhiệm vụ giải mật mã của hải quân Đức. Ông đã kết nối các máy giải mã thành máy Bombe và tìm ra công thức của máy Enigma – máy tạo mật mã và giải mật mã nổi tiếng của Đức. Trước khi chiến tranh chấm dứt, ông đã cho ra đời một máy điện tử, máy Kolossus, dùng để giải mã tất cả những thông điệp của Đức.

Sau chiến tranh, ông trở về làm việc tại Automatic Digital Machine thuộc University of Manchester. Ông dựa trên suy nghĩ giữa người và máy chỉ khác nhau chút xíu về xử lý tín hiệu để sáng chế ra máy Turing Test, dùng để đo khả năng nhận thức cảm nghĩ.

 

Cuộc sống riêng của Turing gặp nhiều khó khăn do ông là người đồng tính. Ông buộc phải điều trị bằng cách tiêm estrogen, thứ thuốc mà y học thời bấy giờ cho rằng có thể trị được bệnh đồng tính. Hiệu ứng phụ của thuốc làm ngực ông phát triển, quá thất vọng và đau khổ, Turing đã ăn một trái táo có tẩm chất cyanur và chết ngày 7 tháng 6 năm 1954.

Ông qua đời trong khi đang ở thời kỳ đỉnh cao của trí tuệ với rất nhiều thành tựu chưa kịp cống hiến. Đây được xem là một tổn thất to lớn cho cả nhân loại chúng ta.


Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University