Friday, Dec 15th

Last update03:43:24 PM GMT

Mùa Thi Buồn

1967.

Năm ấy tôi mười bảy tuổi, tuổi vẫn mộng mơ nhưng đã bắt đầu lo tương lai. Giữa học và chơi, tôi chơi nhiều hơn và chỉ ngồi vào bàn học khi anh tôi ở nhà. Ngày ấy tôi vẫn thường ca tới ca lui bài “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý. Chả là vì cô bé hàng xóm quá xinh đẹp mà tôi đã “phải lòng” bấy lâu. Vẫn mơ màng một ngày nào đó mình thành công trở về cũng là ngày cô bé lên xe hoa.

Tuổi mộng mơ và tuổi mộng mơ giữa mùa chinh chiến tao loạn. Đêm đêm thành phố vẫn vọng về tiếng đại bác rì rầm và thỉnh thoảng lại thấy “những đóm mắt hỏa châu”. Thành phố nhỏ bé mà mùa hè thì nóng bức. Tối tối, bọn con trai chúng tôi vẫn thường ra ngoài đường để học bài, đứng tụm năm tụm ba dưới những cây đèn đường, học thì ít mà nói chuyện thì nhiều. Dĩ nhiên chỉ có bọn con trai mới đứng ngoài đường đến khuya, chứ tám giờ thì các cô đã vào nhà học bài, không còn lêu lổng ngoài đường nữa.

Niên học đã chấm dứt và bọn chúng tôi chuẩn bị thi kỳ thi thứ ba trong đời. Đó là tú tài I. Bọn chúng tôi đã qua hai kỳ thi sát hạch. Thi vào đệ thất trường công, và thi trung học đệ nhất cấp. May quá cả hai lần tôi đã “không đến nỗi đậu phải cành mềm”. Nhưng tú tài I là khác, trước mắt chúng tôi có hai con đường. Một là đậu luôn tú tài II và lên đại học, hay là sau tú tài I sẽ được gọi đi làm “nghĩa vụ quân sự” của người miền Nam, có nghĩa là chín tháng quân trường Thủ Đức. Bọn con trai chúng tôi học trối chết để có thể có một trong hai con đường nầy, không có con đường thứ ba là chuẩn úy cũng không mà đại học cũng không.

Quê tôi ở Quảng Trị. Tôi đã ở thành phố đó gần 15 năm sau khi gia đình hồi cư từ vùng kháng chiến: 15 năm dễ thương và ngọt ngào. Bây giờ bọn chúng tôi bắt đầu đi ra khỏi tuổi con nít để làm người lớn. Tú tài I là bước đầu. Vì là thành phố nhỏ, các học sinh đều phải vào Huế để “ra kinh ứng thí”. Có nghĩa là phải đi qua đoạn đường 60 km từ Quảng Trị đến Huế và trở về. Năm 1967, cao điểm của chiến tranh, không có tháng nào là không có kẻ vong mạng trên cái đại lộ mà sau nầy được gọi là “Đại Lộ Kinh Hoàng” đó. Tôi nhớ mồn một hôm đi thi định mệnh ấy. Từ chiều tối hôm qua, mẹ tôi đã cụ bị cho tôi lên đường. Bà đã bỏ vào xắc tay của tôi đủ áo quần để mặc một tuần, và dĩ nhiên, bà đã nhét vào túi tôi một số tiền đủ cho tôi đi uống cà phê ở quán chị Lợi mà mỗi lần ra Huế, tôi cũng tìm cách đến quán cà phê chị Lợi để được thưởng thức hương vị “triết gia trẻ” mà tôi vẫn thấy trên khuôn mặt của các chàng sinh viên; mặt thì rất son trẻ nhưng đã “ưu tư” rất nhiều về triết lý cuộc đời bên cạnh ly cà phê đắng và điếu thuốc lá phì phèo trên môi. Đến quán chị Lợi --người chị lớn dễ thương tự tay mình đã nuôi lớn các cô em-- tôi còn được các chị luôn luôn thăm hỏi mỗi khi đến quán, tôi vẫn còn hy vọng ngày nào đó được nhìn thấy nhà thơ Mường Mán nghe nói thường đến quán làm thơ!

Chưa định được giờ ra đi thì Nguyễn văn A. bạn tôi xuất hiện trước nhà khoảng 7 giờ sáng. A. học với tôi một lớp mặc dù tôi biết A. hơn tôi rất nhiều tuổi. A. vào nhà, chào ba mẹ tôi, và rủ tôi cùng đi với anh vào Huế bằng chuyến xe hàng. Buồn ngủ gặp chiếu manh, Tr. bạn thân của tôi đã vào Huế từ trước, tôi chụp lấy cơ hội và nhận lời liền. A. vẫn thường từ quê lên tỉnh đi học và thường hay ghé nhà tôi, có khi ở lại với tôi, nên tôi chắc là ba mẹ của tôi sẽ đồng ý.

Trái với sự suy nghĩ của tôi, ba tôi nhìn tôi, nghiêm nghị:

“Ba đã xin một chỗ trên máy bay cho con.”

“Máy bay?” Tôi chưa bao giờ được đi máy bay và đoạn đường từ Quảng Trị vô Huế chỉ có 60 km. Tôi năn nỉ ba tôi cho tôi đi với A., nhưng ba tôi nhất định từ chối với lý do là ông đã mất công đi bộ qua văn phòng của cơ quan viện trợ Mỹ để xin. Họ đã cho, và tôi không thể nào không đi, e rằng sau nầy ba tôi có cần gì đến họ, họ sẽ không giúp đỡ nữa. Bùi ngùi tôi tiễn A. ra khỏi nhà và trở vào. Chuyến bay tôi phải đi từ sân bay Nhan Biều --một sân cỏ, đất dã chiến và phải đi vào buổi chiều, lúc 2 giờ. Một ngày dài chờ đợi. Tôi đáp xuống phi trường Phú Bài lúc gần 3 giờ chiều, anh Hai tôi đi Vespa đến phi trường, chờ ở cửa máy bay. Khuôn mặt anh khác lạ. Anh ôm tôi không nói gì cả. Tôi leo lên xe Vespa, ngồi sau lưng anh. Tôi không hề biết là một biến cố đau thương đã vừa xảy ra. Trên con đường qua cầu Tràng Tiền, anh từ từ bảo tôi rằng có một chuyến xe hàng vừa bị nổ mìn, nghe nói có học sinh trong đó. Tôi nghĩ ngay đến A. Tôi nằng nặc yêu cầu anh đưa tôi đến nhà xác của bệnh viện Huế.

Sự ngờ vực của tôi chấm dứt khi thấy những thi thể nát nhừ của các bạn cùng trường của tôi. Dù nhiều xác đã bị nám đen, tôi vẫn nhận ra A., bạn tôi. Tôi không hiểu anh bị chết vì vết thương gì, nhưng lòng quặn đau khi thấy chân phải của anh gần như bị đứt lìa. Kỳ thi đó, nghe nói ban giám khảo hội đồng thi hứa quyết định nới điểm cho học sinh Quảng Trị với lý do là chuyến xe đò hoàn toàn chở học sinh, và A. người bạn trong lớp tôi đã bị tử nạn trong số người trên chuyến xe định mệnh ấy vào Huế thi. Chiến tranh tang thương đã cắt ngắn cuộc đời của những người son trẻ, chưa bao giờ thấy tương lai màu hồng rộng mở. Tôi tự hỏi nếu tôi cùng đi với A. sáng hôm đó, có lẽ giờ nầy tôi không còn ngồi đây để mà viết bài nầy thương tiếc người bạn hiền lành dễ mến. Có lẽ một người bạn khác sẽ viết về tôi.

Đám tang A. tôi đã không thể về để dự vì phải chờ thi xong. Nhưng ngay sau đó, tôi đã về tận quê anh để thăm mẹ anh và an ủi bà. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi bước vào nhà; ngoài mẹ của anh, tôi còn gặp hai thiếu nữ trẻ khác đầu quấn khăn tang. Tôi không ngờ bạn tôi, Nguyễn văn A. đã có vợ và có con. A. không bao giờ nói điều nầy; em gái anh cho tôi biết là anh đã vâng lời mẹ lấy vợ sớm để có con nối dõi. Bây giờ tôi không biết con và người vợ trẻ của anh A. ra sao. Sau năm 1967, tôi rời Quảng Trị và ra đi biền biệt. Bây giờ đã gần 30 năm xa quê chưa một lần trở lại Việt Nam. Tôi chỉ biết ngậm ngùi viết lại những kỷ niệm buồn của ngày thi định mệnh năm ấy, viết về một quá khứ chiến tranh rất buồn thảm.

Hoàng Bách Lộc


Oxford University

Harvard University

Cambridge University

Stanford University

Princeton University